Chiều nay, một buổi chiều đặc biệt
nóng bức khó chịu vô cùng. Tôi thấy buồn buồn
chỉ muốn sinh sự với ai cho vui. Nhưng nh́n quanh
không thấy một bóng ma, mà nếu có cũng không nạn
nhân nào đáng chịu cái vạ vịt ấy. T́m nguyên do,
th́ ra chỉ v́ trời không mưa. Lỗi tại trời
trách ai được! Tôi chỉ c̣n cách nằm lăn ra
gạch bông lạnh, thấy cũng dễ chịu phần
nào. Gạch mát, trời oi bức, gió hiu hiu, dễ ngủ
lạ!
Trong lúc mơ màng, tôi thấy ḷng lâng lâng, hồn phiêu phiêu.
H́nh như tâm tưởng muốn đi đâu là thấy
ḿnh ở ngay trong cảnh ấy.
Tôi thấy tôi bay lên không trung, viếng từng v́ sao trên
trời. Tôi đang bay lang thang, bỗng nhiên nghe ai gọi:
- Linh Bảo, Linh Bảo! Đi đâu phất phơ
vậy?
Tôi quay lại nh́n, thấy một cụ già râu tóc bạc
trắng, y phục theo lối cổ như người
trong tranh Tàu, có vẻ tiên phong đạo cốt lắm. Tôi
đang nghĩ ngợi, không biết đă quen cụ ở
đâu và bao giờ, th́ cụ tiếp:
- Ghé lại đây chơi đă. Đệ tử gặp
sư phụ, c̣n phải đợi sư phụ mời
chào đến mấy lần mới chịu dừng chân
hay sao?
Tôi thấy ngài ngại, ngập ngừng hỏi:
- Thưa cụ, con có học ǵ với cụ hồi nào
đấy ạ? Trí nhớ con kém quá, xin cụ tha lỗi.
Cụ vuốt râu cười:
- Ta là Lư Tống Ngô. Tác giả phát minh ra HẬU HẮC
HỌC đây mà!
Tôi vội vàng vái chào, nói:
- Xin cụ tha lỗi. Con quả thực có đọc qua
học thuyết của cụ, con rất bái phục
nhưng v́ chưa lănh hội được hết
những chỗ cao thâm, nên con không dám nhập môn bái sư.
Thấy tôi có vẻ định “rút lui có trật tự”, cụ
cười:
- Th́ hẵng ngồi chơi một lúc đă. Ta đến
đây đánh cờ với Tây Vương Mẫu. Nay mai
sẽ trở về động, để nghiên cứu
thêm về các anh hùng hào kiệt cận kim. Bộ con
tưởng dễ gặp được ta lắm sao?
Tôi rón rén đến gần, ngồi xuống một đám
mây bên cạnh. Cụ gọi tiểu đồng đi
lấy rượu Hoa Điêu mời tôi uống. Cụ
hỏi:
- Sao? Từ hồi rời Trung Hoa đến giờ,
chắc không có dịp uống rượu Hoa Điêu hâm nóng
đấy nhỉ? Làm ăn có khá không?
- Dạ thưa cụ, cũng qua ngày nào hay ngày ấy
- Con dại lắm. Đă biết đến Hậu
Hắc Học của ta, th́ cứ gắng ngày đêm mài
dũa, nghiên cứu. Lo ǵ không có ngày phát đạt.
- Bẩm cụ, con ngu quá, không lĩnh hội nổi. Có
lẽ con không có tuệ căn.
- Ta biết hết. Con đọc đi đọc lại
sách ta cả chục lần. Có nhiều chữ tự
vị thiếu, không biết hỏi ai chạy lăng
quăng như gà mắc đẻ, tội nghiệp quá,
thôi để ta giảng sơ lại cho con hiểu .
Cụ tằng hắng lấy giọng nói:
- Con nghe cho rơ nhé. Hậu Hắc Học của ta phát minh
hồi cuối đời nhà Thanh. Sau bao nhiêu năm nghiên
cứu ta mới thấy rằng, th́ ra Anh hùng Hào kiệt trong
thiên hạ xưa nay sở dĩ làm được
những chuyện kinh thiên động địa, là
chỉ nhờ có hai điều kiện mà thôi: Aáy là MẶT
DÀY và TIM ĐEN. Hậu là dày, Hắc là đen. Học là
học thuyết. V́ thế nên ta mới gọi là HẬU
HẮC HỌC.
- Dạ điểm này con hiểu.
- Kể những anh hùng trong truyện Tam Quốc,
người thứ nhất là Tào Tháo. Sở trường
của ông là tâm địa đen tối, nghĩa là
độc ác. Tào Tháo giết nhà họ Lữ, giết
Dương Tu, giết Đỗng Thừa, Phục Hoàn,
giết Hoàng Hậu, Hoàng Tử mà không hề ghê tay. Đă
thế, lại c̣n nói thẳng ra: “Chẳng thà ta phụ
người, c̣n hơn để người phụ ta”.
Tim đen như thế, thật đă đến tột
độ. Tào Tháo xưng hùng được là lẽ
cố nhiên.
-
Kế đến nên công nhận Lưu Bị. Sở
trường của ông ta hoàn toàn nhờ ở cái bộ
mặt dày. Ông ta theo Tào Tháo, theo Lữ Bố, theo Lưu
Biểu, theo Tôn Quyền, theo Viên Thiệu. Trốn bên
Đông, nấp bên Tây, chầu chực ăn ở nhà
người ta hết năm này qua tháng nọ, vẫn không
cho là nhục. Đă thế, Lưu Bị lại c̣n rất
dễ khóc. Mỗi khi gặp việc ǵ khó giải
quyết, ông ta bèn khóc một hồi là chuyển bại thành
thắng. V́ thế, tục ngữ có câu: “ Giang sơn
của Lưu Bị nhờ khóc mà ra”. Đó cũng là
một vị anh hùng có nhiều bản lĩnh. Lưu
Bị sánh với Tào Tháo, có thể gọi là “ Song
tuyệt”. V́ thế, lúc hai người đối ẩm
luận anh hùng, một người tim đen nhất và
một người mặt dày nhất, Tào Tháo đă nói:” Anh
hùng trong thiên hạ, chỉ có tôi với ông”.
Ngoài ra, c̣n có Tôn Quyền. Tôn Quyền với Lưu Bị
là đồng minh, hơn nữa lại bà con, thế mà
bỗng nhiên ông đánh phá Kinh Châu, giết Quan Vũ. Tâm
địa độc gần bằng Táo Tháo, chỉ tiếc
không độc đến nơi đến chốn. Xong
rồi, ông lại xin ḥa với Thục để biểu
lộ cái mặt dày. Tôn Quyền với Tào Tháo sánh vai
xưng hùng, có thể nói là chẳng ai hơn ai kém. Ôâng
lại c̣n hàng Tào Tháo, xin được xưng thần,
tuyệt giao với Ngụy, toàn là những việc làm
rất “ mặt dày” cả. Tuy tim ông không đen bằng Tào
Tháo, mặt không dày bằng Lưu Bị, nhưng lại
kiêm toàn. V́ thế, ông được liệt vào hạng anh
hùng hào kiệt cũng đáng lắm.
Về sau, Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền đều
chết cả, có họ Tư Mă nổi lên. Ta có thể nói
là Tư Mă đă lĩnh hội được cái Hậu
Hắc chân truyền của Tào Tháo và Lưu Bị. Ông ta có
thể ức hiếp cô nhi quả phụ, độc
như Tào Tháo, có thể chịu được cái nhục
“ khăn yếm”, mặt c̣n dày hơn Lưu Bị
nhiều.
Lúc ta mới đọc sử, đến đoạn
Tư Mă Ư chịu nhục, nhận khăn yếm, đă
phải vỗ bàn mà khen rằng:” Thiên hạ tất sẽ
về tay họ Tư Mă”.
Ta lại có thể lấy Sở Hán ra dẫn chứng:
Hạng Vũ là bậc anh hùng vũ dũng bậc nhất
đương thời, thế mà phải chịu chết
ở Đông Thành cho thiên hạ chê cười. Hàn Tín phê
b́nh sự thất bại của ông là “ Phụ nhân chi nhân,
thất phu chi dũng”. “Phụ nhân chi nhân” tức là ḷng nhân
của đàn bà, không thể nhẫn tâm. Căn bệnh
ở chỗ tim không đen. “ Thất phu chi dũng” là cái
dũng của kẻ thất phu, không chịu
được tức. Căn bệnh ở chỗ mặt
không dày.
Lúc Hạng Vũ và Lưu Bang cùng ngồi một chiếu,
Hạng Vũ đă rút kiếm ra khỏi vỏ, chỉ
cần hoa một lát lên cổ Lưu Bang là xong, thế mà
ông ta bồi hồi không nỡ, để Lưu Bang thoát
khỏi.
Trận Cai Hạ bị bại, nếu ông quyết
định qua sông Ô Giang th́ chưa chắc thắng bại
về ai. Ôâng lại nói :” Hơn tám ngàn con em ở Giang
Đông theo ta sang sông về miền Tây, chẳng c̣n một
ai trở về, gia đ́nh họ sẽ thương khóc
con em của họ mà nghĩ đến ta, ta c̣n mặt
mũi nào trông thấy ai! Ví dụ họ chẳng oán trách ta
chăng nữa, ta cũng thẹn với lương tâm”.
Hạng Vũ bại là phải lắm. Đă nói “ không
mặt mũi nào nh́n ai” lại c̣n biết “ thẹn với
lương tâm”, th́ c̣n làm ăn ǵ được nữa!
Trong lúc ấy th́ Lưu Bang, cha bị quân địch
bắt, dọa đem làm thịt, Lưu Bang thản nhiên
trả lời :” Nếu có luộc th́ xin dành cho một bát
nước xúp”. Con bị binh Sở đuổi bắt, ông
nỡ đẩy con xuống xe giao cho địch. Về
sau c̣n giết Hàn Tín, giết Bành Việt. “ Chim hết
bẻ cung, thỏ hết giết chó”. Tư cách như
thế th́ Hạng Vũ “ Phụ nhân chi nhân, thất phu chi dũng”
làm sao địch nổi!
Ngoài ra, c̣n nhiều nhân vật có thể dẫn chứng.
Như Hàn Tín mặt dày chịu được nhục “ bát
cơm phiếu mẫu”, nhưng tim không đen nên bị thất
bại. Phạm Tăng tim thật đen, nhưng mặt
không dày, không chịu được tức, đến nỗi
làm mất giang sơn của Hạng Vũ lại lụy cả
đến cái thân già của ḿnh.
V́ thế, con phải biết rằng: Trời sinh ra ta, cho
ta cái bộ mặt, nhưng bề dày, may sao nó lại
lộn vào bên trong. Trời cho chúng ta một trái tim nhỏ
bé, nhưng cũng may làm sao, sắc đen của nó cũng
ở bên trong. Bề ngoài tuy thật tầm thường, nhưng
khảo sát cho tinh vi, thấy nó có thể dày đến vô
hạn, đen đến vô cùng.
Muốn luyện thành một con người “ Hậu
Hắc ” cũng không khó, miễn phải kiên nhẫn và
phải qua ba thời kỳ.
Thời kỳ thứ nhất, là “ dày mà cứng, đen mà sáng”.
Người “ Hậu” đă tinh thông, mặc dầu thiên
hạ công kích đến thế nào đi nữa, cũng
không hề động ḷng. Lưu Bị là hạng này,
cả đến Tào Tháo cũng đành phải chịu thua
cái mặt dày của ông ta.
Người tinh thông “ Hắc” học, tim như một tấm
“ lắc” đen bóng loáng, càng đen người ta càng
đổ xô vào phục vụ. Tào Tháo là hạng
người này. Ông đă nổi tiếng ác độc,
thế mà danh lưu Trung nguyên đều một ḷng quy
phục. Đúng là tim càng đen th́ chiêu bài càng sáng.
Đến thời kỳ thứ hai, tuy đă khá lắm
rồi, nhưng vẫn chưa thành công v́ c̣n để
lộ h́nh tích. Cũng như Lưu Bị, Tào Tháo, mới
nh́n qua, người ta xét đoán được ngay họ
thuộc vào loại nào.
Thời kỳ thứ ba, là “ dày mà vô h́nh, đen mà vô
sắc”. Người đă “dày vô tận, đen vô cùng” th́
hậu thế vẫn có thể tưởng là không dày, không
đen. Thế mới là đi đến tuyệt đích.
Nho-gia giảng Trung-dung, giảng đến “ vô thanh, vô xú ”
mới hết. Phật giáo cũng phải đạt
đến “ bồ đề vô thụ, minh kính vô đài ”
mới chứng quả. Như thế, Hậu Hắc
Học là một học thuyết bí truyền từ thiên
cổ, cố nhiên phải đạt đến chỗ “
vô h́nh, vô sắc” mới hoàn toàn.
- Dạ, như thế là thành công sao?
- Chưa hết đâu con ạ. C̣n phép cầu quan nữa!
- Xin cụ dạy nốt cho con hiểu.
- Nếu muốn làm quan mà không thuộc ḷng “ Bí quyết
cầu quan”; cũng như làm được quan rồi mà
không biết phép “ Duy tŕ chức quan”, th́ cũng vô ích.
Người cầu quan, trước hết phải
biết rơ sáu chữ:
Rảnh Rang, Luồn cúi, Khoe khoang, Nịnh hót, Dọa
nạt, Quà Biếu .
1 -Rảnh Rang. Rảnh rang có hai nghĩa. Một là chỉ
sự vụ. Người muốn làm quan, không
được bận rộn một việc ǵ hết.
Không làm thợ, không đi buôn, không làm ruộng, không học
hành mà cũng chẳng dạy ai học. Phải rảnh
rang để nhất tâm nhất trí cầu quan.
Hai là chỉ thời gian. Người cầu quan phải
nhẫn nại, không được nóng nảy hấp
tấp. Hôm nay không xong, đợi ngày mai. Năm nay chưa
được, chờ sang năm.
2-Luồn Cúi . Nghĩa là chui luồn. Cầu quan, phải
luồn cúi, điều này ai cũng biết. Nhưng
họ chỉ mới biết đến tŕnh độ có
cửa th́ chui mà thôi. Theo ta, nếu phải đợi có
cửa mới chui th́ hỏng to. Phải làm sao cho có cửa
th́ chui , mà không cửa cũng phải vào lọt. Có cửa
sẵn, ta mở rộng thêm. Không có cửa, ta phá
tường đục vách, làm cửa mới.
3 -Khoe Khoang. Khoe khoang cùng đi chung với khoác lác. Khoe có hai
lối: khoe trực tiếp bằng lời nói và khoe
bằng giấy tờ. Khoe bằng lời cũng chia ra hai
loại: khoe lúc b́nh thường và khoe trước mặt
quan trên. Gián tiếp là khoe trên giấy tờ như báo chí,
truyền đơn, tạp chí, biểu ngữ, v.v… ..
4- Nịnh Hót. Trên sân khấu cải lương, lúc
Ngụy Công ra tṛ, những cử chỉ, dáng diệu, cách
ăn nói của bọn này là gương mẫu.
5- Khủng Bố . Tức là dọa nạt. Chữ này nghĩa
lư quá cao thâm. Cần phải nhấn mạnh: quan là một
nghề rất đặc biệt, đâu có thể tùy
tiện muốn cho ai cũng được. V́ thế, có
người đă thực hành chữ “Nịnh Hót” chu
đáo đến một trăm phần trăm mà vẫn
không được làm quan. Đó là v́ thiếu chữ “Khủng
Bố”.
Làm người, ai cũng có nhược điểm và
lỗi lầm. Khi t́m được nhược điểm
của quan trên, ngắm thật đúng, khẽ điểm
một huyệt là quan hoảng hốt sợ hăi, lập
tức t́m cho ta một chức vụ ngay. Nhưng
người cầu quan phải hết sức khéo léo khi
dùng hai chữ “Nịnh Hót” và “ Khủng Bố” kết
hợp lại . Nghĩa là, trong nịnh hót có ư ngầm
dọa nạt.
Trong mắt mọi người, thấy ḿnh nói chuyện
với quan thầy, câu nào cũng toàn là nịnh hót, tâng
bốc, kỳ thực bên trong toàn là móc trái, đá ngầm,
chỉ một ḿnh quan thầy hiểu. Quan nghe đến
đâu, mồ hôi toát ra như tắm đến
đấy. Người giỏi nịnh hót, nói ǵ,
người bên ngoài nghe câu nào cũng thấy toàn là chỉ
trích các bề trên, nhưng các “ bề trên” nghe thật vui
ḷng, nở nang từng khúc ruột. Nhưng điều
cần biết là dọa phải có giơiù hạn, nếu
đi lỡ trớn, để quan thầy thẹn quá,
nổi xùng lên th́ cũng hỏng bét cả.
6- Quà Biếu là dâng lễ vật. Lễ lớn là tặng
biếu tiền bạc, vàng, kim cương, ngân phiếu.
Lễ nhỏ là món ngon vật lạ, đồ cổ
xưa, mời nhậu nhẹt v. v. . . Người
được tặng có khi là quan trên, có khi là kẻ tuy
không làm chức ǵ hết nhưng có cách giúp đỡ ḿnh
được.
Sáu chữ này, nếu theo thực đúng, th́ sẽ đem
đến kết quả cụ thể là, một hôm, quan
trên bỗng chợt nhớ ra lẩm bẩm một ḿnh:
- Ôâng Z muốn làm quan, đă xin từ lâu (Rảnh Rang). Ḿnh
với ông ta có đôi chút liên lạc (Luồn Cúi ) Ông ấy
cũng là kẻ có tài (Khoe khoang). Ông ta đối với
ḿnh rất tốt (Nịnh Hót). Nhưng hắn cũng không
phải tay vừa, nếu không cho hắn một việc
làm, hắn sẽ làm bậy, có hại đến ḿnh
(Khủng Bố).
Nghĩ đến đây, nh́n thấy những lễ
vật quà cáp chất đầy quanh ḿnh (Quà Biếu), ông
không c̣n biết phải làm ǵ hơn là kư giấy bổ
“đương sự” đi làm quan.
- Dạ thế là thành công rồi, phải không cụ?
- Chưa con ạ. Được chức quan rồi, c̣n
phải biết giữ chức ấy nữa chứ.
- Thưa cụ, cho con nghe nốt.
- Phép giữ chức quan cũng có sáu chữ:
- Trống Rỗng, Cung Kính, Hách Dịch, Hung Aùc, Điếc
Đui. Hối lộ
1) Trống Rỗng. Trống rỗng trong giấy tờ,
báo cáo, diễn văn, tất cả. Điểm này ta không
cần nói rơ phải trống rỗng như thế nào, con
chỉ cần chú ư xem các diễn văn,thông điệp, báo
cáo của các cơ quan, hội đoàn, báo chí th́ hiểu rơ.
Nghĩa thứ hai, là làm việc không nhất định
một hướng nào. Có khi biểu lộ thật
cương quyết, độc đoán, nhưng bên trong
vẫn có đường ngầm, để nếu
cần có thể thối lui rất dễ dàng, nhất là
không bị liên lụy bao giờ
.
2) Cung Kính nghĩa là nịnh hót. Nịnh có hai thứ,
trực tiếp và gián tiếp. Trực tiếp là nịnh
ngay quan trên. Gián tiếp là nịnh thân thích, bạn bè của
quan. Từ vợ lớn , nàng hầu, nhân t́nh, con cháu và đến
cả mèo, chó của quan nữa.
3) Hách Dịch trái nghĩa với chữ Cung Kính. Chữ này
để đối với thuộc hạ hay dân chúng.
Một là tỏ ra bằng giáng điệu oai nghiêm hách
dịch. Hai là trong ngôn ngữ, tỏ ra ta đây tài giỏi
hơn người. Chữ Cung Kính không nhất định
đối với quan trên, v́ có khi quan trên không trực tiếp
nắm quyền sinh sát ḿnh, th́ không sợ. Cũng giống
như thế, chữ Hách Dịch không nhất định
đối với người dưới, v́ nếu
người dưới mà có quyền hay ảnh hưởng
đến chức phận của ḿnh, th́ cũng phải
đổi ra cái bộ mặt cung kính đối với
họ. Như thế, nghĩa là phải tùy hoàn cảnh,
sử dụng cho khéo léo.
4) Hung Ác. Ta chỉ cần đạt đến mục
đích, mặc kẻ khác táng gia bại sản, bán vợ
đợ con. Nhưng, điều cần chú ư nhất, là
bao giờ cũng phải phủ lên trên bộ mặt tàn ác
một lớp vỏ nhân nghĩa đạo đức
mới được việc.
5) Điếc . “ Chúng cười mặc chúng, quan ta, ta
cứ làm”. Trong chữ Điếc này, lại c̣n bao gồm
cả chữ Đui . V́ có khi thiên hạ chửi bằng
báo chí chứ không chỉ chửi bằng miệng. Trong
trường hợp này, ta giả Đui nhắm mắt
không thèm xem.
6) Hối Lộ tức là ăn tiền. Mười một
chữ trước đều sắp đặt
để dọn đường cho chữ này: đối
chiếu với chữ Biếu Xén. Đă có dâng lên th́
phải có thu vào. Nhưng cũng cần phải biết món
nào nuốt được, món nào cần nhả th́ phải
nhả, để khỏi mắc nghẹn.
- Dạ con hiểu rồi ạ.
- Đó là đại cương. Ai muốn học,
phải tự ḿnh t́m hiểu, nghiên cứu thêm cho tinh thông.
Tôi hỏi:
- Dạ thế c̣n đường lối làm việc? Con
xin cụ chỉ giáo nhân thể.
-
- Có hai cách làm việc. Một là “ PHÉP CẮT TÊN”. Hai là “PHÉP VÁ
NỒI”.
-
- Tên nghe lạ quá.
-
- Đúng lắm con ạ. Để ta kể cho con nghe: ngày
xưa có một người bị trúng một mũi tên.
Hắn ta đến nhà một vị lương y
ngoại khoa xin chữa trị . Oâng ta lấy dao cắt
mũi tên bên ngoài, rồi tính tiền khám bệnh và chữa
bệnh. Bệnh nhân ngạc nhiên hỏi:
- Ơ ḱa, ông đă chữa lành đâu mà đ̣i tiền?
Mũi tên vẫn c̣n ở trong người tôi.
Lương y trả lời:
- Tôi là thầy ngoại khoa. Tôi chỉ chữa bệnh ngoài
da. C̣n bên trong không chữa được, bây giờ anh hăy
đi t́m một thầy nội khoa mà xin chữa
- .
Đó là chuyện xưa, c̣n ngày nay th́ cũng nhan nhản
cách làm
việc như thế. Ví dụ, Trong một công văn
nọ được viết:” Theo như lời của
ngài th́ tên X quả thực có tội, chúng tôi sẽ thông báo
cho nha hữu quyền điều tra để nghiêm
trị”. “ Quả thực có tội” là “ cắt tên”. “ Nha
hữu quyền” tức là thầy nội khoa. Hoặc là “ sẽ
chuyển lên thượng cấp định liệu”. “
Thượng cấp” đây là “ thầy nội khoa”. Và ví
dụ, nếu có người nhờ ta làm việc ǵ, ta nói:
“ Tôi rất tán thành ư kiến của anh, nhưng c̣n phải
thương lượng với ông Z”. “ Rất tán thành” là “
cắt tên”. “Ông Z” là thầy nội khoa.
Có những trường hợp bệnh nhân chỉ
được cắt tên mà không được mách bảo
t́m thầy nội khoa, và cũng có trường hợp
chỉ bảo t́m thầy nội khoa, chứ tên cũng
không thèm cắt. Chính trị càng cao th́ càng biến hóa huyền
bí vô cùng vô tận.
Cách thứ hai là HÀN NỒI. Có một người mời
bác thợ hàn nồi đến nhà để hàn một cái
nồi bị nứt. Bác thợ hàn vừa cạo nồi
vừa bảo:
- Xin ông chủ cho tôi ít lửa để tôi nhen bếp hàn.
Trong khi chủ nhà quay lưng đi lấy lửa, bác
thợ hàn khẽ đập nhẹ vào đáy nồi cho
nứt nhiều thêm. Đợi chủ nhà đến
nơi, bác nói:
- Ông chủ xem đây. Nồi của ông nứt dài thế
này, nhưng v́ bị bồ hóng bám đầy nên không trông
thấy. Bây giờ tôi cạo sạch, mới lộ ra rơ
ràng.
Chủ nhà kinh ngạc nói:
- Thật may quá, hôm nay may gặp được bác hàn giúp
cho. Nếu để
ít lâu nữa, chắc là sẽ phải bỏ cái nồi,
không c̣n dùng được nữa.
Nồi hàn xong, cả bác thợ hàn lẫn chủ nhà
đều vui vẻ măn nguyện chia tay.
Cổ kim, đông tây, hiện đại cũng như trong
lịch sử, nhan nhản đầy những chuyện
Cắt tên và Vá nồi như thế. Hành động
của cá nhân cũng như biến chuyển của
quốc gia, suy luận một lúc là thấy rơ ngay thuộc
về loại nào. Cũng có khi bác thợ hàn lỡ tay,
đập vỡ nồi của người ta, rồi vá
không xong!
Trịnh Trang Công dung túng cho Công Thúc Đoạn làm thực
nhiều điều bất nghĩa, rồi mới cứ
binh chinh phạt. Đó là phép vá nồi. Trong lịch sử,
nếu ta lưu tâm nhận xét một chút th́ nhận
thấy rơ ngay.
Hai phép mầu nhiệm trên đây là một công lệ để
làm việc. Vô luận cổ kim, đông tây, xưa nay
vẫn rất thành công.
Quản Trọng là một đại chính trị gia Trung
Quốc. Ông làm việc, không bao giờ ra khỏi hai
luật này. Rợ Địch đánh nước Vệ,
Tề quốc án binh bất động. Đợi
đến lúc Địch diệt được Vệ
rồi, ông mới làm nghĩa cử, hưng binh vấn
tội Địch để cứu Vệ. Đó là phép vá
nồi. Quản Trọng không trách Sở tiếm
Vương hiệu, chỉ trách Sở không triều cống.
Đó là phép cắt tên. Bởi v́ lúc bấy giờ thực
lực của Sở hơn Tề gấp bội, Quản
Trọng xui Tề Vương đem binh đánh Sở, có
thể nói là đập vỡ nồi để hàn.
Đến khi thấy thái độ phản kháng cứng
rắn của Sở, bèn cắt tên, bỏ qua chuyện cho xong.
Quản Trọng có thể đập thủng nồi, xong
rồi vá lại, v́ thế nên được gọi là kẻ
anh tài trong thiên hạ.
Đời Minh, Lư Vũ Thần vây khổn Lưu Khấu,
sau lại thả ra. Đó là định dùng phép đập
nồi. Chẳng ngờ, Lưu Khấu mạnh quá, trị
không nổi, nên bị nước mất, vua chết.
- Bẩm cụ, thế có ai dám làm trái công lệ này không?
- Có chứ. Nhưng làm trái th́ phải thất bại. V́
trong khi ai cũng chỉ theo phép cắt tên, và ḿnh chỉ là
thầy ngoại khoa, lại muốn nhổ cả
đầu mũi tên ra, th́ thất bại là lẽ cố
nhiên. Chẳng hạn, Nhạc Phi muốn khôi phục Trung
nguyên, rước Nhị Đế về. Nhưng khi ông
vua đương kim có ư định chỉ nhổ
đầu tên, th́ Nhạc Phi bị hại ngay.
Đời Tấn, Vương Đạo làm thừa
tướng, có giặc nổi loạn nhưng
ông không cho binh lính tiêu diệt loạn quân, mặc dầu
trong khi ấy ông ta vẫn tỏ ra tận trung pḥ tá ngai
vàng. Aáy là ông ta nuôi giặc để cho nhà Vua cảm
thấy ngai vàng lung lay, cần phải có ông pḥ tá. Đó là
giữ nguyên cả mũi tên không cắt, để chờ
thầy nội khoa. Cổ kim, đông tây, ví dụ rất nhiều,
ta không thể nào nói hết được. Nếu con
chịu khó suy luận th́ thấy ngay.
Thấy tôi cứ ngồi ngẩn ra không trả lời,
cụ dịu dàng hỏi:
- Con c̣n điều ǵ thắc mắc nữa không?
Tôi ngập ngừng:
- Dạ có. Con nghĩ rằng, nếu theo như lời
cụ dạy, th́ chả hóa ra đời đen tối
lắm sao? Và những kẻ nào thành công trên đời, vô
t́nh hay hữu ư, cũng đều là môn đồ của
cụ cả?
- Con nói thế, tỏ ra con chỉ biết một mà không
biết hai, và “ Hậu Hắc Học” của ta, con cũng
chưa đọc kỹ. Thôi, tiện đây ta cũng nói
nốt cho con nghe
Thế giới lúc nào cũng tiến hóa. Hậu Hắc
Học cũng phân ra
làm ba thời kỳ. Thời kỳ thượng cổ c̣n
lộn xộn, không phân biệt “ đen” hay “ dày” ǵ cả,
tất cả mọi người đều giản
dị thật thà. Trong thời ấy, học thuyết
của Khổng Mạnh đề xướng ra, rất thích
hợp. Đó là thời kỳ thứ nhất.
Về sau, trí thức dân chúng càng ngày càng mở mang, trong
đầu óc người ta, trăm mưu ngh́n kế,
biến hóa vô cùng. “ Hắc” như Tào Tháo, “ Hậu” như
Luu Bị, bấy giờ mới xuất hiện ra. Lúc
ấy, dù Khổng Tử có sống lại, cũng vô ích mà
thôi. Đó là thời kỳ thứ hai.
Hiện tại đă đến thời kỳ thứ ba.
Bọn người “ Hắc” như Tào Tháo, “ Hậu”
như Lưu Bị, sinh ra càng ngày càng nhiều. Không những
thế, nghệ thuật tinh vi của bọn họ,
nếu Tào, Lưu trông thấy, cũng phải kinh
hoảng. Cũng may là người thành công ít, kẻ
thất bại nhiều. Và dù có thành công một thời,
kết quả cũng vẫn đi đến thất
bại.
Như thế là tại làm sao? Ta đă nói rồi. V́ đây
là thời kỳ thứ ba, thời kỳ “ Hậu Hắc”
toàn thịnh của Tào, Lưu nay đă trở thành quá
khứ. Người muốn THỰC thành công bây giờ, ngoài
mưu trí thông minh xuất chúng, c̣n phải kiêm cái
đạo đức giống như ở thời kỳ
thứ nhất vậy. Kỳ thực, cũng không phải
là trở lại thời kỳ thứ nhất hẳn,
nhưng là một cái ṿng tṛn tiến hóa. Nghĩa là phải
có cái tâm của Khổng Mạnh để thực hành cái
thuật của Tào, Lưu, mới thích hợp với
thời đại.
Vật ǵ hiếm có là vật quí. Thời thượng
cổ, dân trí c̣n chất phác, không ai “ Hậu” mà cũng
chẳng có ai “ Hắc” . Bỗng nhiên sinh ra một
người đủ cả “ Hậu” lẫn “ Hắc”,
tất nhiên người ấy khống chế thiên hạ,
giành phần thắng lợi về ḿnh. Mọi
người trông thấy thế, bèn bắt chước
theo. Ai cũng thi nhau “ Hậu Hắc” không ai trị nổi
ai.
Thế rồi bỗng dưng lại nổi lên một
người, không rơ là “Hậu” hay “ Hắc”. Người này
cố nhiên sẽ nổi bật hẳn lên về
đức độ và tài năng, như thế cố
nhiên sẽ phải được thiên hạ tín nhiệm,
cảm phục, phần thắng lợi nắm chắc
trong tay, không c̣n ai tranh được.
Ví dụ, cũng như trong thương trường, lúc
ban đầu tất cả các gian hàng đều bán
một thứ hàng tốt, giá rẻ cả, bỗng nhiên có
một người bán lẫn hàng giả và xấu vào,
người này bán đầu tiên, nên lừa thiên hạ
được một số tiền rất lớn.
Mọi người thấy thế đua nhau bắt
chước, đến nỗi cả thị trường
dần dần đều bán toàn hàng giả, xấu, làm cho
khách hàng nghi ngờ, chán nản vô cùng. Thế rồi,
bỗng có một nơi bán hàng tốt thật và giá rẻ
thật. Khi thiên hạ phát giác sự thật thà của
cửa tiệm này, tất cả mọi người
đều đổ xô đến mua. Công ty này nhất định
sẽ phát đạt và giàu to, v́ đă được
sự tín nhiệm của khách hàng.
Như thế là trong thương trường, cũng chia
làm ba thời kỳ: thời kỳ thứ nhất là hàng tốt
và đẹp mắt, thời kỳ thứ hai hàng chỉ
đẹp mà không tốt, thời kỳ thứ ba, trở lại
bên ngoài trông đẹp mà bên trong chất hàng cũng tốt
nữa
.
Hậu Hắc Học của ta cũng biến hóa như
thế. Môn đồ ta ai không có trí suy xét, không biết biến
hóa theo thời kỳ, chỉ c̣n biết oán trách sinh không
đúng thời chứ đừng oán trách ta giảng
dạy không chu đáo. Con đă hiểu chưa?
Tôi thưa:
- Bẩm cụ, nhưng con là phận đàn bà con gái, có
lĩnh hội được Chính truyền của cụ
cũng chẳng ích lợi ǵ. Con không thích và cũng không
thể làm “ anh hùng hào kiệt” như cụ dạy. Con
chỉ ao ước quê hương được thanh
b́nh, tâm hồn mọi người đều yên tỉnh và
. . . .
Cụ có vẻ giận, cắt lời tôi:
- Thật ta tiếc công giảng dạy con. Nam nữ ǵ
cũng giống nhau. Học thuyết của ta thiên
biến vạn hóa, ai lĩnh hội được th́ thành
công tuyệt vời. Ta muốn giảng phép thành “Anh hùng Hào kiệt”,
mà con chỉ nghĩ đến hai chữ b́nh an, rơ thật
người đầu năo thấp kém có khác! Thôi con về
đi. Khi nào “ tĩnh ngộ” rồi, lên sao Bắc
Đẫu t́m ta, ta sẽ giảng Hậu Hắc Kinh cho mà
nghe.
-
Cụ bảo tôi nhắm mắt lại. Cụ thổi
một hơi nhè nhẹ bên mang tai làm tôi thấy lạnh
toát cả người. Giật ḿnh tỉnh dậy, th́ ra
một giấc mơ dài.
Đêm đă sang canh .
Linh Bảo _ Saigon 1958
(Trích trong tuyển tập Mây Tần)