Mai lái xe lượn qua lượn
lại nhiều lần, vẫn không t́m được
chỗ đậu. Một lúc sau, có hai Sĩ quan từ trong
cửa chính Câu Lạc Bộ bước ra, thấy Mai nh́n
quanh măi, họ ra hiệu cho nàng đi theo để lấy
chỗ. Đậu xe được tận cuối sân xa
tít, Mai phải đi bộ một quăng dài mới
đến được pḥng ăn. Lúc lên cầu thang, Mai
bước thật chậm, nhẫn nha “ thiền hành”, làm
như vài chục bậc thang có nghĩa lư ǵ , nhưng
thực ra là để lấy lại nhịp thở
đều.
Mặc dầu chỉ có một giờ nghỉ ăn
trưa, mọi người không ai có vẻ vội vàng
cả. Từ sự tranh nhau chỗ đậu xe rất có
lễ độ, cho đến cách chiếm dăy bàn ăn
cạnh cửa sổ để nh́n phong cảnh bên ngoài,
cũng tranh vừa phải, hơi có vẻ nhường
nhịn nhau nữa là khác.
Mai theo mọi người xếp hàng bên cạnh cái bàn dài,
người bếp đứng sau bàn múc cho khách ăn món ǵ
họ thích. Bao giờ Mai cũng chỉ ăn hai lát bánh ḿ
kẹp thịt và một cốc sữa tươi. Mặc
dầu có nhiều món ăn nóng khác ngon lành hơn, nhưng
Mai tự kềm chế không ăn những món quá phong phú, quá
béo bổ sợ lên cân, và cũng không ăn no quá, sợ vào
lớp dễ bị buồn ngủ.
Mai bưng khay thức ăn đi qua chỗ cô giữ két
ngồi, trả tiền như thường lệ xong
bước vào pḥng ăn. Mai c̣n đang nh́n quanh để
t́m một chỗ vừa ư, bỗng nghe có tiếng gọi :
• Mời bà ngồi đây.
Mai quay lại, thấy ông Sơn, một Nha sĩ Quân y
đang ngồi một ḿnh trong góc pḥng. Mai bưng khay
đến gần, đặt trên bàn ông.
• Chào bà.
• Chào bà.
• Chào bà.
Chung quanh pḥng, nổi lên nhiều tiếng chào, vài bàn tay
vẫy từ đằng xa cuối pḥng. Tất cả
đều thuộc lớp sinh ngữ tiếng Việt Nam,
và tất cả cũng đều đă từng
được Mai chấm điểm thi một cách
rộng răi.
Trong đám người mặc binh phục ấy, từ
binh nhất cho đến Sĩ quan cấp Tá, một khi
đă ngồi vào ghế sinh viên, không nhiều th́ ít,
biến thành nghịch ngợm trẻ trung. Bọn họ
biết Mai không nhớ tên, v́ mỗi khi vào lớp Mai hay liếc
nh́n bảng tên ở ghế ngồi rồi mới gọi.
Một hôm cả lớp đồng ḷng đổi chỗ.
Lúc Mai vào lớp theo thói quen cũ, th́ gọi tên này hóa ra
người kia làm cả lớp được một
bữa cười bằng thích. Mai đă chữa thẹn
nói rằng : Các ông biết mỗi tuần tôi phải vào 8
lớp khác nhau. Làm sao tôi có thể nhớ hết mấy
trăm sinh viên. Với lại, trong mắt tôi, các ông, ông nào
cũng giống nhau hết. Ông nào cũng thông minh, học
giỏi, ngoan ngoăn và . . . . đẹp trai như nhau.
Thế là cả lớp lại được thêm một
trận cười. Họ chỉ vào nhau , béo, gầy,
đen, vàng, trắng, già, trẻ đủ các loại
người mà nói:
-Trời đất ơi, tôi mà giống tên này à?
-Chết tôi rồi, tôi giống thằng này th́ làm sao mà
cưới được vợ?
-Lạy Chúa tôi! Chắc tôi phải gắng đi xưng
tội nhiều hơn nữa . . .
Nhờ câu “ Các ông đều thông minh đẹp trai
giống hệt nhau “, họ đă xóa cho Mai cái lỗi không
nhớ tên, và đâm ra có cảm t́nh thêm với cô giáo có
nhiều khuyết điểm.
Tất cả đều là khách ăn trưa quen thuộc
của Câu Lạc Bộ. 11 giờ là giờ ăn của
sinh viên, 12 giờ là giờ ăn của Giáo Sư và nhân
viên. Th́ giờ chia như thế, ai cũng có chỗ
ngồi, nhà bếp cũng đỡ vất vả. Tuy
thỉnh thoảng có nhiều sinh viên ăn muộn,
nhưng bao giờ cũng đủ chỗ ngồi, v́
chỉ một số rất ít giáo sư Việt Nam ăn
ở đây, c̣n tất cả đều về ăn
cơm nhà, vừa hợp khẩu vị vừa cho các bà có
việc làm buổi trưa.
Ông Sơn hỏi:
-Thế nào ? Bà đă đổi được xe chưa?
Mai cười:
• H́nh như c̣n lâu. Năm nào tôi cũng dọa đổi xe
mới cả, thế mà đă sáu năm rồi, tôi vẫn
c̣n giữ chiếc xe bà lăo, vẫn c̣n chạy ngon lành.
Nhưng năm nay, chắc thế nào cũng phải đổi
v́ cửa xe không chịu đóng chặt nữa.
• Như thế nguy hiểm lắm!
Mai gật đầu:
• V́ thế, tôi đă mua bảo hiểm sanh mạng rồi.
Mai ngồi xuống bàn, chậm răi bóc hộp giấy,
đổ sữa ra cốc. Nh́n miếng bánh ḿ kẹp
thịt đầy tràn cả ra ngoài đĩa, Mai mỉm
cười nghĩ đến mấy ông bếp Phi Luật
Tân. Hôm Mai vào đây ăn lần đầu tiên, lúc đi
qua dẫy bàn đầy thức ăn, nh́n đĩa phó mát
trắng xay vụn, trên mặt bày các thứ hoa quả
hộp, Mai thật thà hỏi ông bếp;
• Món này ăn làm sao ông?
Ông bếp liến thoắng, vui vẻ trả lời:
• Ăn với thứ kem trắng này, hay kem vàng cũng
được.
Mồm nói, tay ông đổ kem vào dĩa hoa quả cho Mai.
• Bà là người ở đâu đến? Bà có thích cơm
Mỹ không?
• Tôi là người Việt Nam. C̣n ông?
• Phi Luật Tân. Chúng tôi ăn cơm. Bà có thích cơm Phi Luật
Tân không?
• Có chứ. Gạo Phi Luật Tân nấu cơm ngon lắm.
Ở đây chúng tôi mua được nước mắm
Phi. Ngon tuyệt.
Ông bếp nghe khen, ḷng ái quốc lên hương, lấy thêm
một bát canh nhỏ để vào khay của Mai.
• Hôm nay xúp hến này đặc biệt lắm. Chính tay tôi
nấu lấy. Bà phải ăn thử mới
được.
Mai cười cám ơn, và lúc ra về, đi qua dăy hành lang,
ba ông bếp Phi đang ngồi nghỉ chân, thấy Mai ra ,
tất cả vội vàng đứng dậy chào hỏi:
• Thế nào? Cơm hôm nay bà ăn có được không? Bà
thích món ǵ?
Mai dừng lại nói chuyện cơm canh một lúc. Từ
đó, dù đến chậm, bao giờ Mai cũng c̣n
phần.
• Ḱa, bà ăn đi chứ, suy nghĩ ǵ thế? Gần
hết giờ rồi!
Ông Sơn đă ăn xong bữa, chỉ c̣n ngồi chờ
Mai.
• Bà có muốn về Việt Nam không?
• Cố nhiên là muốn. Nhưng có nhiều vấn
đề cản trở, khó lắm.
• Tôi đă qua Việt Nam một lần rồi. Tôi rất
thích và mong một ngày kia c̣n có dịp trở lại. Sơn
là tên của người Việt Nam đặt cho tôi lúc tôi
làm việc bên ấy. À, vừa rồi nghe nói có Tết âm
lịch. Những người Việt ở đây ăn Tết
có vui không? Có ai làm món ăn đặc biệt Việt Nam
không?
Mai đang cắn miếng bánh ḿ, món ăn phải nuốt
lẫn với nước mới lọt – mà nàng
đặt tên là món “ ăn để sống” – nghe nói
đến cơm Việt Nam, h́nh như có một sức
khai vị lạ lùng. Mai nuốt bánh ḿ không khó khăn chút
nào cả. Không cần phải thêm một miếng dưa chuột
ngâm dấm ớt thêm vị, và nước lă dẫn
đường.
• Có. Mấy cô khác đều có quà rất đặc
biệt. Cô Lan nhận được mứt dứa,
mứt sen. Cô Đào nhận được bánh tráng để
cuốn chả gị. Một sinh viên có bạn ở Việt
Nam gởi sang cho một gói mứt măng cầu xiêm. Cô
bạn cùng ngồi một pḥng với tôi nhận
được me chua ngâm với đường.
Nghĩ đến mứt măng cầu Xiêm vừa chua vừa
ngọt, và món me xanh dầm, Mai thấy khai vị lạ
lùng. Mai cắn một miếng bánh ḿ và cũng nuốt trôi
một cách dễ dàng.
• Nghe ngon quá nhỉ. Toàn là những món tôi đă từng
được nếm thử.
• Tôi không biết tất cả các bạn khác, nhưng
đại khái, ai cũng nhận được một
thức ǵ không nhiều th́ ít, của bạn bè hay bà con cho
để nhớ đến quê hương.
Mai ngẫm nghĩ một chốc, tiếp theo:
• À quên, có một cô bạn nhận được da heo khô.
Cô ta ngâm nước cho nở ra trộn với thịt làm
nem chua, gói bằng giấy bóng. Cô đem đến sở,
nướng trên ḷ sưởi làm cơm trưa, hôm ấy,
cả sở ai cũng đ̣i xin cưới cô làm vợ.
•
• Tôi nghe nói năm ngoái người Việt Nam ở đây
không tổ chức ăn Tết, nhưng năm nay h́nh
như có, phải không bà?
•
• Vâng, có tổ chức đi tiệm Tàu ăn yến và
đến những mười sáu món khác. Theo chương
tŕnh, th́ có đi nhẩy ở một tiệm sang nhất
và có âm nhạc hay nhất ở đây.
•
• Bà cũng đi chơi vui chứ ?
Mai lắc đầu:
• Không, tôi rất tiếc.
Ôâng Sơn ngạc nhiên:
• Tại sao bà lại không đi? Mỗi năm chỉ có
một lần thôi mà? Với lại, nếu tôi không
lầm, th́ chính bà là người đ̣i ăn Tết
nồng nhiệt hơn ai hết.
Ông nói đúng. Mỗi năm chỉ có một lần thôi.
Ban tổ chức cũng đồng ư. Và họ nghĩ
rằng, ngày Tết, không ăn th́ thôi, đă ăn th́
phải ăn cho ngon. V́ thế, giá tiền tham gia mất
một phần ba của một tháng lương, nên
chỉ có một số ít dự cuộc vui. Riêng tôi không
muốn ham vui riêng ḿnh, bỏ hai cháu ở nhà chúng nó
buồn tội nghiệp..
• Tôi tưởng, ngày Tết, ăn là một chuyện
cần, mà vui lại cần hơn, nhất là vui chung. Nên
tổ chức thế nào cho tất cả mọi
người, mọi giới, giầu nghèo, đều có
thể cùng chia vui.
• Tôi cũng nghĩ như thế.
• Tại sao các ông các bà không mượn pḥng nấu ăn
quốc tế, góp tiền nấu chung, vừa ngon vừa
rẻ, vừa vui.
• Năm xưa, lúc người Việt c̣n ít, chúng tôi đă
tổ chức như thế, nhưng chỉ thành công trong
phần chơi vui, c̣n phần ăn th́ kém lắm.
• Bà có thể cho tôi biết, để tôi rút kinh nghiệm
được không?
• Tôi chắc ông thừa biết, nấu ăn cho một
số đông người quá, đồ ăn phải làm
số lượng nhiều, mất ngon. Nấu
trước th́ nguội lạnh, đến giờ mới
nấu, th́ làm sao có th́ giờ về nhà tắm, thay quần
áo, trang điểm . . . Xong rồi lại c̣n việc quét
dọn nữa. Ai cũng sợ và tránh xa những việc
này. V́ thế, năm ngoái bỏ hẳn, không có tổ
chức ǵ, làm ai cũng phàn nàn. Năm nay, tôi đưa ra
đề nghị mượn nhà bếp quốc tế,
mỗi người mang vài món. Trong pḥng ăn có nhiều
bàn, ḿnh sẽ ngồi chung và góp đồ ăn với vài người
bạn khác. Giờ ăn xong, đến giờ chơi. Ai
không tiện đến ăn, sẽ đến chơi sau.
Bói đầu năm, đàn hát, đóng kịch, ngâm thơ,
nhảy nhót, chương tŕnh muốn kéo dài đến bao
lâu cũng được. Mọi người cùng vui, ai có
trẻ, muốn mang đến cứ mang, chỉ phải
tự trông nom lấy. Nhưng y ù kiến này không
được “giới hữu quyền” tán thành.
• Thế hôm ấy bà đi chơi đâu không?
• Không. Tôi nằm nhà xem T. V. viện lư do là “ được
mời đi dự tiệc”.
• Cũng vui chứ sao!
• Nào có xem được yên! Điện thoại của
những người có gánh nặng gia đ́nh cũng
“được mời đi dự tiệc” như tôi,
gọi suốt từ 6 giờ chiều đến nửa
đêm. Chúng tôi chỉ có cách gọi nhau thăm hỏi cho
đỡ ghiền.
• Ư kiến của họ có giống bà không?
• Đại khái cũng như thế. Họ bảo là ngày
Tết ḿnh phải chú trọng nhiều vào trẻ em
nữa. Trẻ em đông quá mà không cho chúng ăn Tết, lâu
dần chúng nó sẽ chẳng c̣n biết Việt Nam là cái ǵ
nữa! Chúng sẽ mất gốc hết. Và họ cũng
kêu đắt qua: hai vợ chồng đi, lại phải
thuê người giữ trẻ, trẻ dưới 12
tuổi, nếu để ở nhà một ḿnh, bố
mẹ bị tội. Hơn nữa, nếu chỉ đi
ăn ngon và nhảy nhót với một nhóm người
rất ít, không có đồng bào, không có trẻ con, th́
tiệc ấy đâu có phải là tiệc Tết, đâu có
nghĩa lư ǵ. Muốn ăn ngon và nhảy nhót, th́ suốt
năm, lúc nào mà chẳng được.
Thấy chuyện Tết nói cũng đă hơi nhiều,
Mai ăn nốt miếng bánh và nói sang chuyện khác:
• À quên, tôi muốn hỏi ông có quen luật sư nào không?
Ông Sơn cười:
• Bà không được ăn Tết, nên định
kiện đấy à?
Mai vội vàng lắc đầu:
• Không, không, đâu có kiện ai. Tôi muốn làm di chúc.
• Ông Sơn lại cười chế nhạo:
• Làm di chúc? Sao bà yếm thế đến như vậy?
Chỉ v́ không được ăn Tết có vài lần, mà
đă giận dỗi, nghĩ đến chuyện . . . qui
tiên rồi.
• Biết đâu đấy? Tai nạn bất ngờ,
đoán trước thế nào được. Tôi có đóng
một số bảo hiểm nhân thọ. Nếu lỡ tôi
chết th́nh ĺnh, con bé có thể ăn học cho đến
khi nên người. Nếu không t́m sẵn luật sư, th́
lúc ấy không có ai lo hộ. Không ai đ̣i, hăng bảo
hiểm sẽ lờ đi, nhà sẽ bị xiết, con
bị bơ vơ.
• Tôi có quen ông luật sư làm về giấy tờ ly
dị cho tôi. Để tôi giới thiệu.
Nhắc đến ly dị, mặt ông Sơn bỗng
buồn rầu hẳn đi, và giọng ông nghẹn ngào.
Ông Sơn đă từng kể cho Mai nghe một đoạn
ngắn về đời ông.Sau nhiều năm đóng
ở Thái Lan, ông được trở về Mỹ . Lúc
gặp lại vợ con, chỉ mong yên hưởng
tuổi già cạnh gia đ́nh, th́ bỗng một buổi
sáng, có giấy của luật sư báo cho biết, ông
phải dọn ra khỏi nhà trong 24 tiếng đồng
hồ, v́ vợ ông đă kiện xin ly dị. Ông nói:
• Ba con gái tôi đều đang học đại học.
Chúng đă gần tự lập được rồi. Cái
nhà tôi mua góp 25 năm, nay cũng trả xong. Tôi cứ
tưởng vợ chồng đôi khi xích mích, t́nh già tuy không
c̣n nồng nhiệt như t́nh trẻ, nhưng vẫn c̣n
cái nghĩa và t́nh bạn đời. Chúng tôi có thể t́m
hạnh phúc trong hạnh phúc của các con. Không ngờ . . .
• Thế bà nhà có yêu ai khác không ?
• Tôi không biết. Có lẽ không. Nhà tôi già rồi, cũng
lắm bệnh nhiều tật như ai, lại đang
ốm. Tôi không thấy nhà tôi có lư do ǵ đến nỗi
phải ly dị cả. Tôi cũng chưa hề yêu ai khác
ngoài nhà tôi. Tôi không ngờ ngày tôi về nước,
tưởng để được sống với gia
đ́nh êm ấm, sống dưới mái nhà, mănh vườn
của ḿnh dành dụm vun quén suốt 25 năm. . .
Ông cắn môi, dừng lại một chốc:
• Ngờ đâu, quá nửa đời người, gần
về hưu rồi, tôi bị tống ra khỏi cái nhà
của tôi. Phải dọn vào trại Túc Xá Sĩ Quan
độc thân, sống chung với những chàng trai
mới lớn, nhí nhảnh vô tư, và các cụ trai già tâm
hồn bệnh hoạn, tính nết chướng kỳ. Sau
25 năm lao tâm lao lực, ra sức xây tổ ấm,
chờ ngày dưỡng lăo, bỗng dưng trở lại
hai bàn tay trắng như ngày mới ra trường, mà tai hại
nhất là tuổi tác, sinh lực không c̣n như xưa
•
• Tôi nghe nói luật ly dị ở Mỹ, người
chồng phải cấp dưỡng cho vợ con nhiều
lắm. Có khi tiền c̣n lại chỉ đủ sống
một cách đạm bạc, không bao giờ có hy vọng
mời bạn gái đi chơi, hay đủ tiền
lập lại gia đ́nh khác. Nếu có vợ lại, th́
người vợ sau cũng phải đi làm mới
đủ sống.Có đúng không?
•
• Gần đúng như thế, tùy theo trường hợp.
Nếu vợ đi lấy chồng ngay, th́ khỏi cấp
dưỡng cho vợ nữa, chỉ cấp cho con thôi. Nhưng
già như nhà tôi th́ c̣n lấy ai, để tôi mong khỏi
trả tiền cấp dưỡng. Ban đầu, tôi
đề nghị chia nửa lương với nhà tôi,
nhưng luật sư của bà ấy không chịu. Ông ta
đưa ra một con số gần gấp đôi. Thế
th́ tôi làm sao mà sống được. Tôi phải thuê
luật sư bảo vệ tôi. Kiện đi kiện
lại, ra ṭa bao nhiêu lần, tốn vô khối là phí tổn
cho Ṭa án và luật sư. Kết quả, nhà tôi bằng ḷng
nhận số tiền tôi đề nghị. Chung qui
chỉ luật sư của cả hai bên lợi thôi.
Nếu là một vụ ly dị thường, hai bên
thỏa thuận ngay, cả hai chúng tôi đều chỉ
tốn độ một phần mười số
tiền chúng tôi đă chi phí.
• Có lẽ đó là một nghệ thuật chuyên môn của
họ.
Ông Sơn gật đầu:
• Lúc nhà tôi ốm ở nhà thương, tôi đến
thăm, bà ấy nói không biết ǵ về việc luật
sư của bà ấy đ̣i nhiều tiền đến
như thế. Đấy bà xem, họ chỉ lợi
dụng hoàn cảnh không may của người khác, nói là
bảo vệ thân chủ, mà thực ra th́ ḿnh
được kiện hay thua kiện, họ cũng
cứù thu tiền công, tiền án phí, lệ phí cả
trăm thứ, đó là điều chính. Bất đắc
dĩ lắm, tôi mới phải nhờ đến luật
sư, nhưng c̣n bà, tại sao bà lại phải cần
đến luật sư bảo vệ con bà, thu tiền
bảo hiểm và t́m chỗ ở cho nó? Bà có anh chị em,
hay bà con ở đâu không?
Nghe nói đến anh em, mắt Mai sáng lên:
• Có chứ. Tôi có nhiều anh chị em ở Saigon lắm.
Tất cả đều khá giả và mạnh khỏe.
• Họ có viết thư cho bà thường không?
Vốn thực thà, Mai định nói thực, nhưng
nghĩ đến một câu – không biết của danh nhân
nào đă nói ra: “ Người đàn bà nào, mỗi ngày nói
dối chưa đến 5 lần, th́ đó là người
rất thực thà và có thể tin cậy được”,
ngày hôm ấy, Mai chưa có dịp nói dối lần nào, nên
quyết định nói dối đễ giữ thể
diện:
• Vâng, thường luôn.
Ôâng Sơn như chợt nghĩ ra:
• Nếu bà c̣n nhiều họ hàng thế, nên nhờ thân
thích trông nom và làm người giám hộ cháu, có tốt
hơn là nhờ người ngoài không? Luật sư
cũng là người ngoài.
Mai có vẻ ngần ngại:
• Khi c̣n bé, anh chị em chúng tôi thương nhau lắm. Có
dịp là nói chuyện với nhau mê mải, quên cả ngày
giờ, rất ư hợp tâm đầu. Căn pḥng nào trong
nhà, có mặt chúng tôi là vui như Tết. Nhưng bây giờ
. . . cách xa nhau mấy chục năm trời , với
biết bao nhiêu là sông núi . . Ai cũng có gia d́nh, ai cũng
đă trưởng thành,và cố nhiên là . . . đổi tính.
• Thế Tết năm nay, anh chị em và các bạn của
bà có gởi ǵ cho bà không?
Mai cười, nhưng hơi có vẻ không tự nhiên:
• À, à . . .có , anh tôi có gởi cho tôi cái này đẹp lắm.
Tôi cho ông xem.
Mai mở ví, lấy ra một cái phong b́, trên mặt phong b́
dán đầy tem, nhiều màu sắc và nhiều kiểu, có
thể làm cho bất cứ người chơi tem nào trông
thấy cũng ham thích. Mai chỉ vào phong b́ nói:
• Tôi quí những con tem này lắm, nhưng nếu ông chơi
tem, th́ tôi sẽ cho ông vài con, thứ nào tôi cũng có
thừa.
Ông Sơn ngắm những con tem Việt Nam với một
đôi mắt tŕu mến thân yêu một lúc, rồi mở phong
b́, lấy ra một tấm thiệp. Trên thiệp vẽ
h́nh hai thiếu nữ Việt Nam, tóc bỏ lơi, đang
ngồi ḥa đàn tranh và đàn t́ bà.
Ôâng Sơn nh́n tấm h́nh mỉm cười, giọng
mơ màng:
Tôi đi Việt Nam về, có mua vài bức tranh sơn mài.
Tôi thích nhất là bức tranh vẽ vườn cau bên
cạnh một con sông. Mặt trời buổi chiều
đă gần tàn, có một em bé đang ngồi trên ḿnh trâu
thổi sáo. . . Tôi yêu quí bức tranh ấy lắm, nhưng
vợ tôi cấm tôi không được mang một
đồ vật ǵ ra khỏi nhà cả, trừ mấy
bộ quần áo.
Hai mắt ông chớp mau và ướt hẳn đi.Ôâng
đưa ngón tay lên chặm hai giọt nước mắt
đang lăn xuống má một cách tự nhiên, không
ngại ai nh́n thấy.
• Chắc anh bà viết trong này dài lắm, thư máy bay, có
dán nhưng 35 đồng bạc tem.
Như điện giật, Mai hoảng hốt định
giơ tay chận lại, không cho ông xem bên trong, nhưng
đă muộn quá rồi. Ông Sơn đă mở tấm
thiệp ra một cách nhanh nhẹn gọn gàng.
Bên trong thiệp vỏn vẹn có bốn chữ hoa, in
bằng mực đen rất to, rất đẹp:
“ CUNG CHÚC TÂN XUÂN”
Đă lỡ rồi, Mai đành mỉm cười. Nàng
để tự nhiên, không cần che dấu hai gịng
nước mắt đang ứa lên rất nhanh, mặc nó
chảy dài xuống má. Và Mai vẫn giữ nguyên nụ
cười ngưng đọng trên môi, tưởng như
không bao giờ tắt.
Linh Bảo ( Monterey 1969)
(trích trong tuyển tập Mây Tần)